TÀI LIỆU 

GIỚI THIỆU ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 252/2026/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC, HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

{getToc} $title={Xem nhanh} $count={Boolean} $expanded={Boolean}

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

1. Cơ sở chính trị, pháp lý 

Các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã xác định, định hướng xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, phân cấp quản lý và lấy người nộp thuế làm trung tâm. Trên cơ sở đó, Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15 và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.

2. Cơ sở thực tiễn

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP sau hơn 5 năm thực hiện đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, hỗ trợ người nộp thuế và chống thất thu ngân sách. Tuy nhiên, nhiều quy định đã bộc lộ bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế số, thương mại điện tử, yêu cầu chuyển đổi số và thiếu sự đồng bộ với pháp luật liên quan. Vì vậy, trên cơ sở các chủ trương của Đảng, Nhà nước về tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền và hiện đại hóa quản lý thuế, việc ban hành Nghị định là cần thiết nhằm bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý, thống nhất và phù hợp với thực tiễn.

II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH 

1. Mục đích 

Mục đích ban hành Nghị định là cụ thể hóa Luật Quản lý thuế và pháp luật liên quan theo hướng đồng bộ, hiện đại; đẩy mạnh cải cách, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong quản lý thuế; tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT), mở rộng thủ tục hành chính thuế điện tử, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức.

2. Quan điểm xây dựng Nghị định 

Nghị định được xây dựng dựa trên:

(1) Cơ sở thể chế hóa chủ trương của Đảng về chuyển đổi số và phòng, chống tham nhũng; 

(2) Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật. 

(3) Kế thừa quy định còn phù hợp, sửa đổi các nội dung bất cập để đáp ứng thực tiễn, bảo đảm quyền lợi NNT và phù hợp với xu hướng quản lý thuế hiện đại, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh giao dịch điện tử, nâng cao tuân thủ tự nguyện, hội nhập quốc tế.

III.  BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Bố cục và nội dung cơ bản

Nghị định: gồm 07 Chương, 76 Điều, cụ thể:

Chương I về Quy định chung, gồm 05 Điều.

Chương II về Các chức năng quản lý thuế, gồm 6 Mục, 34 Điều.

Chương III về Khai và nộp thuế, khoản thu khác đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác, gồm 02 Mục, 07 Điều.

Chương IV về Hợp tác quốc tế về thuế; chế độ ưu tiên cho người nộp thuế; ứng dụng công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số trong quản lý thuế, gồm 10 Điều.

Chương V về Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ, quyền hạn của các bên liên quan trong quản lý thuế, gồm 08 Điều.

Chương VI về Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, gồm 09 Điều.

Chương VII về Điều khoản thi hành, gồm 03 Điều.

Nội dung Nghị định được sắp xếp theo Chương, Điều và nội dung các Điều thực hiện đúng quy định Luật Quản lý thuế giao Chính phủ quy định chi tiết. Trong đó, một trong những điểm đáng chú ý tại Nghị định là chuyển từ cơ chế quản lý thuế theo chức năng như trước đây sang quản lý theo đối tượng người nộp thuế kết hợp với chức năng, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “lấy người nộp thuế làm trung tâm”; đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thành phần hồ sơ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn, giảm thuế và thực hiện các giao dịch trong lĩnh vực thuế trên môi trường điện tử phù hợp với thông lệ quốc tế. 

2. Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1 Nghị định: quy định chi tiết 32 Điều, khoản điểm, 16 nội dung và 07 biện pháp thi hành Luật Quản lý thuế liên quan đến đăng ký, khai, nộp, hoàn, miễn, giảm, khoanh, xóa nợ và cưỡng chế thuế; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan; công khai thông tin NNT, các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về quản lý thuế và xử lý nợ thuế. 

Đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Nghị định gồm: người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

IV. CÁC NỘI DUNG MỚI (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG) TẠI NGHỊ ĐỊNH

Ngoài những nội dung kế thừa quy định tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã thực hiện ổn định, Nghị định số 252/2025/NĐ-CP có những nội dung mới (sửa đổi, bổ sung) liên quan đến cơ quan hải quan, gồm:

1. Về giải thích từ ngữ (Điều 3)

Nghị định đã bổ sung hệ thống thuật ngữ sử dụng trong Nghị định như: (1) bổ sung các khái niệm mới phục vụ quản lý thuế trên môi trường số như Hệ thống thông tin quản lý thuế, giao dịch điện tử trong quản lý thuế và một số thuật ngữ liên quan đến dữ liệu điện tử; (2) hoàn thiện tiêu chí xác định nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán, chức năng đặt hàng trực tuyến và các chủ thể tham gia thực hiện nghĩa vụ khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn; (3) rà soát, chỉnh lý các thuật ngữ để bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý thuế năm 2025 và các pháp luật chuyên ngành có liên quan. 

2. Về công khai thông tin người nộp thuế (Điều 4)

Nghị định đã sửa đổi, bổ sung quy định về công khai thông tin người nộp thuế tại Điều 4 theo các nhóm nội dung sau: 

(1) Hoàn thiện cơ chế công khai thông tin trên Hệ thống thông tin quản lý thuế; bổ sung quy định về cập nhật, điều chỉnh và chấm dứt công khai khi người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ hoặc khắc phục vi phạm;

(2) Bổ sung quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình công khai thông tin; quy định việc che, ẩn một số thông tin định danh của cá nhân khi thực hiện công khai theo quy định của pháp luật;

(3) Hoàn thiện hình thức công khai thông tin theo hướng phù hợp với phương thức quản lý thuế điện tử và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý thuế;

(4) Bổ sung nguyên tắc công khai thông tin người nộp thuế, bảo đảm việc công khai đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng phạm vi và đúng mục đích theo quy định của pháp luật;

3. Về nguồn lực phục vụ quản lý thuế (Điều 5) 

Tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và các Nghị định sửa đổi, bổ sung chưa có quy định riêng về nguồn lực phục vụ công tác quản lý thuế. Trong khi đó, Luật Quản lý thuế năm 2025 đã giao Chính phủ quy định nội dung này nhằm tạo cơ sở pháp lý để triển khai hiện đại hóa công tác quản lý thuế và chuyển đổi số ngành Thuế. 

Để cụ thể hóa quy định của Luật, tại Điều 5 Nghị định đã bổ sung các nhóm nội dung chủ yếu sau: (1) quy định nguyên tắc bảo đảm nguồn lực phục vụ công tác quản lý thuế; (2) quy định việc đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin quản lý thuế, cơ sở dữ liệu quản lý thuế và hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý thuế; (3) quy định việc tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ hiện đại trong hoạt động quản lý thuế; (4) quy định việc quản lý, sử dụng nguồn lực theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định của pháp luật có liên quan. 

4. Về khai thuế, khoản thu khác đối với hoạt động dầu khí và bán dầu khí (Điều 13)

Bổ sung quy định về việc tạm nộp và kê khai điều chỉnh thuế xuất khẩu dầu khí trong trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan chưa có giá chính thức, bảo đảm thống nhất giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật hải quan. Việc sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về khai, nộp thuế đối với hoạt động dầu khí.

5. Về đồng tiền khai thuế, nộp thuế, tỷ giá quy đổi và tỷ giá tính thuế (Điều 14) 

- Sửa đổi quy định về đồng tiền khai thuế đối với hoạt động dầu khí, theo hướng gắn đồng tiền khai thuế với đồng tiền thực tế nhận được từ hoạt động thanh toán (USD hoặc Đồng Việt Nam), thay cho quy định chủ yếu sử dụng USD trước đây;

- Bổ sung quy định về đồng tiền nộp thuế đối với hoạt động dầu khí, bảo đảm thống nhất với đồng tiền khai thuế tương ứng đối với từng kỳ khai và từng phương thức khai;

- Quy định tỷ giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; phí, lệ phí và các khoản thu khác theo pháp luật chuyên ngành. 

Việc sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm đồng bộ với Luật Quản lý thuế năm 2025 và các pháp luật chuyên ngành; hoàn thiện cơ chế xác định đồng tiền khai thuế, nộp thuế và tỷ giá quy đổi đối với hoạt động dầu khí.

6. Về Các trường hợp cơ quan hải quan tính thuế, khoản thu khác và thông báo nộp thuế, khoản thu khác (Điều 19)

Để đơn giản hóa thủ tục hành chính, Nghị định đã sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp cơ quan hải quan tính thuế, thông báo thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Điều 19 theo hướng bỏ quy định về việc thông báo thuế đối với trường hợp ấn định thuế. 

7. Về các trường hợp khấu trừ, khai thuế thay, nộp thay thuế (Điều 22)

Bổ sung quy định về khấu trừ, khai thuế thay, nộp thay thuế đối với các trường hợp bán tài sản bảo đảm để thi hành án và xử lý nợ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với tài sản bảo đảm, đảm bảo thu thuế kịp thời vào ngân sách nhà nước.

8. Về thời hạn nộp thuế, thời gian gia hạn nộp thuế (Điều 25)

- Sửa đổi quy định về thời hạn nộp tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với trường hợp người nộp thuế nộp tiền trực tiếp tại tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu. Trước đây, tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu phải chuyển số tiền đã thu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 08 giờ làm việc kể từ khi thu tiền của người nộp thuế. Nghị định số 252/2026/NĐ-CP sửa đổi theo hướng quy định tổ chức được ủy nhiệm thu phải nộp số tiền đã thu vào tài khoản thu ngân sách nhà nước chậm nhất 01 ngày làm việc kể từ ngày thu tiền.

Việc sửa đổi nhằm thống nhất với quy định xác định thời gian tính tiền chậm nộp theo ngày, đồng thời tạo thuận lợi cho cơ quan thuế trong công tác quản lý và xử lý tiền chậm nộp.

- Sửa đổi quy định về thời điểm tính thời gian gia hạn nộp thuế. Trước đây, thời gian gia hạn nộp thuế (01 năm hoặc 02 năm) được tính từ thời điểm hết thời hạn nộp thuế. Nghị định sửa đổi quy định: đối với trường hợp bị thiên tai, thảm họa, sự kiện bất khả kháng, thời gian gia hạn là 02 năm kể từ ngày xảy ra sự kiện; đối với trường hợp phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, thời gian gia hạn là 01 năm kể từ ngày người nộp thuế phải ngừng hoạt động. 

Việc sửa đổi này bảo đảm người nộp thuế được hưởng đầy đủ thời gian gia hạn theo chính sách hỗ trợ, góp phần giảm bớt khó khăn về tài chính và tạo điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Trong trường hợp cơ quan hải quan thu trực tiếp bằng tiền mặt thì chậm nhất 01 ngày làm việc kể từ ngày thu tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế, cơ quan hải quan nộp tiền vào tài khoản thu ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

9. Về thời gian tính tiền chậm nộp (Điều 26):

- Bổ sung quy định về thời gian tính tiền chậm nộp đối với trường hợp thu hồi miễn thuế, giảm thuế. Nghị định số 252/2026/NĐ-CP bổ sung quy định thời gian tính tiền chậm nộp đối với khoản thu hồi miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ ngày có Quyết định hoặc Thông báo miễn thuế, giảm thuế đến ngày liền kề trước ngày người nộp thuế nộp số tiền thu hồi vào ngân sách nhà nước. 

- Sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp không tính tiền chậm nộp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: 

+ Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải thực hiện việc phân tích, phân loại hoặc giám định theo quy định của pháp luật về hải quan thì không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tăng thêm trong thời gian chờ cơ quan hải quan yêu cầu bổ sung theo kết quả phân tích, phân loại hoặc giám định; 

+ Hàng hoá chưa có giá chính thức tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan thì không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tăng thêm trong thời gian chưa có giá chính thức;

+ Hàng hoá có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan thì không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tăng thêm trong thời gian chưa xác định được các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan;  

+ Trường hợp hàng hóa nhập khẩu bị áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp có hiệu lực trở về trước 90 ngày theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương: cơ quan hải quan không tính tiền chậm nộp trong thời hạn 90 ngày trở về trước;

+ Hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 3 Điều 26 Nghị định này

10. Về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (Điều 27)

- Bổ sung quy định doanh nghiệp sau chuyển đổi loại hình được kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi, bao gồm số thuế phải nộp, số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ và số thuế nộp thừa, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật Quản lý thuế năm 2025;

- Bổ sung quy định về xử lý nghĩa vụ thuế đối với trường hợp người nộp thuế là cá nhân đã được xóa nợ do bị Tòa án tuyên bố đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhưng sau đó có quyết định hủy bỏ của Tòa án, theo đó cơ quan quản lý thuế thực hiện phục hồi số tiền thuế nợ đã được xóa để tiếp tục quản lý và thu hồi theo quy định;

- Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc thông báo nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành và áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân kế thừa nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế;

11. Về tạm hoãn xuất cảnh (Điều 28)

- Trước đây, hộ kinh doanh, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký bị tạm hoãn xuất cảnh khi có số tiền thuế nợ quá hạn nộp. Nghị định sửa đổi quy định áp dụng tạm hoãn xuất cảnh đối với đối tượng này, khi hộ kinh doanh, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, sau 120 ngày kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo mà không thực hiện thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế. 

- Về thẩm quyền tạm hoãn xuất cảnh: 

+ Sửa đổi quy định thẩm quyền tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn tạm hoãn xuất cảnh và hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh từ “Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế” thành “cơ quan quản lý thuế”. Việc sửa đổi này nhằm tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý thuế thực hiện ký, ban hành thông báo bằng phương thức điện tử, kịp thời hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

+ Trước đây, cơ quan quản lý thuế nào ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh thì cơ quan đó có thẩm quyền gia hạn và hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh. Nghị định bổ sung quy định: Trường hợp người nộp thuế thay đổi cơ quan quản lý thuế thì cơ quan quản lý thuế mới có thẩm quyền ban hành thông báo gia hạn tạm hoãn xuất cảnh và thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế. Việc bổ sung quy định mới nhằm giải quyết hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh kịp thời cho người nộp thuế.

- Về hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh:

+ Sửa đổi quy định về điều kiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh. Theo đó, thay vì yêu cầu người nộp thuế phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ nộp thuế, Nghị định quy định cơ quan quản lý thuế thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi xác định người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế mà số tiền thuế nợ còn phải nộp dưới 50 triệu đồng đối với cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh hoặc dưới 500 triệu đồng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc được xóa tiền thuế nợ theo quy định.

+ Đối với người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, cơ quan quản lý thuế hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi người nộp thuế có hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế, thực hiện nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế và nộp tiền thuế nợ để số tiền thuế nợ còn phải nộp dưới các ngưỡng nêu trên, hoặc khi người nộp thuế được chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định.

+ Sửa đổi quy định về thời hạn hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh. Theo đó, thay vì quy định trong thời hạn 24 giờ làm việc kể từ khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định cơ quan quản lý thuế phải ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh ngay khi người nộp thuế đã đáp ứng điều kiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo ngưỡng tiền thuế nợ quy định. Đồng thời, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh ngay sau khi nhận được thông báo của cơ quan quản lý thuế qua hệ thống. Việc sửa đổi quy định giúp bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

+ Bổ sung quy định: trường hợp người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhưng thông tin nộp tiền chưa được cập nhật trên Hệ thống thông tin quản lý thuế, người nộp thuế được gửi thông tin phản hồi kèm theo bản chụp chứng từ nộp tiền bằng phương thức điện tử thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế. Sau khi tiếp nhận thông tin phản hồi, cơ quan quản lý thuế thực hiện cập nhật thông tin và ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh trên hệ thống theo quy định.

Quy định này tạo cơ chế để người nộp thuế chủ động cung cấp thông tin, cơ quan quản lý thuế kịp thời kiểm tra, cập nhật dữ liệu và ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, hạn chế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.

12. Về hoàn thuế (Điều 29, 30, 31)

- Về trường hợp hoàn thuế

Các trường hợp hoàn thuế quy định tại điểm a khoản 1 Điều 18 Luật Quản lý thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

- Về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước:

Theo quy định trước đây, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước chậm nhất là 40 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế nhận đủ hồ sơ của người nộp thuế.

Nghị định sửa đổi theo hướng quy định thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế: chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan hải quan ban hành kết luận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, cơ quan hải quan có quyết định hoàn thuế hoặc thông báo hồ sơ đề nghị hoàn thuế chưa đủ điều kiện hoàn thuế. 

- Bỏ quy định về việc chuyển loại hồ sơ từ hoàn thuế trước sang kiếm tra trước đối với trường hợp hồ sơ hoàn thuế thuộc trường hợp hoàn thuế trước nhưng hết thời hạn theo thông báo bằng văn bản của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế hoặc có giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế nhưng không chứng minh được số tiền thuế đã khai là đúng. 

-  Bổ sung quy định rõ cơ quan quản lý thuế có thông báo tiếp nhận hoặc không tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nộp thuế; 

13. Về miễn thuế, giảm thuế (Điều 32, Điều 33)

- Về trường hợp miễn thuế:

Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế, không chịu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế. 

- Về thời gian giải quyết hồ sơ miễn, giảm thuế:

+ Thời hạn tiếp nhận, giải quyết hồ sơ miễn thuế, giảm thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về hải quan;

+ Thời hạn tiếp nhận, giải quyết hồ sơ không thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính; 

+ Thời hạn tiếp nhận, giải quyết hồ sơ không chịu thuế, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng. 

14. Về khoanh tiền thuế nợ (Điều 34)

- Bổ sung quy định không khoanh tiền thuế nợ đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đã chấm dứt hoạt động nhưng doanh nghiệp, tổ chức chủ quản vẫn đang hoạt động, nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các khoản nợ thuế của đơn vị phụ thuộc đã chấm dứt hoạt động.

- Trước đây, thời gian khoanh tiền thuế nợ được tính từ ngày ban hành giấy chứng tử, thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, quyết định thu hồi giấy phép hoặc các văn bản xác định thuộc trường hợp được khoanh nợ. Nghị định sửa đổi quy định về thời gian khoanh tiền thuế nợ, theo đó thời gian khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định khoanh nợ. Việc sửa đổi quy định này nhằm giải quyết triệt để tình trạng còn tồn đọng các khoản nợ phát sinh sau thời điểm ban hành các văn bản nêu trên, bảo đảm toàn bộ các khoản nợ của người nộp thuế thuộc trường hợp được khoanh đều được khoanh theo quy định.

15. Về xóa tiền thuế nợ (Điều 35)

- Về thẩm quyền xóa nợ:

+ Trước đây, UBND cấp tỉnh được quyền xóa nợ đối với các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của doanh nghiệp/hợp tác xã phá sản, cá nhân chết, hộ kinh doanh đã bị áp dụng đến biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép, doanh nghiệp/hợp tác xã đã bị áp dụng đến biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép có khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt dưới 5.000.000.000 đồng. 

Nghị định sửa đổi quy định về phạm vi số tiền được xóa và thẩm quyền của UBND cấp tỉnh. Theo đó, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định xóa nợ đối với các khoản tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng khu vực biển, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và tiền chậm nộp phát sinh từ các khoản nợ này.

+ Bổ sung thẩm quyền xóa nợ cho Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu và Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan.

- Về thời hạn giải quyết hồ sơ xóa nợ: Trước đây, thời hạn giải quyết hồ sơ xóa nợ là 60 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ theo quy định. Nghị định đã sửa đổi, rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ xóa nợ xuống còn 30 ngày. Việc rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ nhằm thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của cơ quan nhà nước, đẩy nhanh tiến độ xử lý các khoản nợ đủ điều kiện được xóa, giảm thời gian chờ đợi cho người nộp thuế. 

16. Về ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 39)

- Sửa đổi, bổ sung quy định về trường hợp ấn định thuế trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

- Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền ấn định thuế, sửa đổi, bổ sung quyết định ấn định thuế, hủy quyết định ấn định thuế: thẩm quyền là thủ trưởng cơ quan hải quan quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị định này (điểm b khoản 2 Điều 2 quy định cơ quan hải quan bao gồm Cục Hải quan, Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục Điều tra chống buôn lậu và cơ quan hải quan khác thuộc Cục Hải quan được giao chức năng quản lý thuế; Chi cục Hải quan khu vực và cơ quan hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu vực; Hải quan cửa khẩu, ngoài cửa khẩu).

Việc sửa đổi, bổ sung bảo đảm công khai, minh bạch, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho người nộp thuế thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý thuế. 

17. Về nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế (Điều 57)

Bổ sung nhiệm vụ của công chức trong quản lý thuế, gồm: (i) hướng dẫn, giải thích chính sách thuế đúng quy định, thống nhất, không đặt ra thủ tục, điều kiện, nghĩa vụ ngoài quy định của pháp luật; (ii) quản lý, sử dụng và bảo mật thông tin người nộp thuế; chỉ được cung cấp thông tin trong phạm vi, đối tượng và mục đích theo quy định của pháp luật; (iii) tuân thủ quy tắc đạo đức công vụ, không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây phiền hà, sách nhiễu, trục lợi; không được can thiệp trái pháp luật vào việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

18. Về nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức liên quan trong quản lý thuế (Điều 58)

- Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm cụ thể của các bộ trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quan ngang bộ.

- Bổ sung quy định trường hợp các cơ quan, tổ chức liên quan trong quản lý thuế chưa thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử thì cung cấp thông tin theo văn bản yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. 

19. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế, phí, lệ phí (Điều 59)

Bổ sung quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế, phí, lệ phí để quy định chi tiết khoản 15 Điều 39 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, trong đó nội dung được xây dựng dựa trên Luật thanh tra và Nghị định số 217/2025/NĐ-CP về hoạt động kiểm tra chuyên ngành. 

Nội dung bao gồm: (i) xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát; (ii) thẩm quyền kiểm tra, giám sát; (iii) trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iv) kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí đối với cơ quan quản lý thuế; (v) kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về phí và lệ phí đối với tổ chức thu phí, lệ phí; (vi) quy trình kiểm tra, giám sát. 

20. Quy định chung về cưỡng chế (Điều 65)

- Bổ sung quy định chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức có số tiền thuế nợ dưới 3 triệu đồng, hộ kinh doanh, cá nhân có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, trừ trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

- Về hiệu lực của quyết định cưỡng chế: Trước đây, quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản có hiệu lực trong 30 ngày, còn quyết định cưỡng chế bằng các biện pháp khác có hiệu lực trong 01 năm. Nghị định sửa đổi quy định thống nhất quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Quyết định cưỡng chế sẽ được chấm dứt hiệu khi NNT nộp đủ số tiền thuế nợ bị cưỡng chế hoặc thuộc trường hợp chấm dứt theo quy định. 

- Về thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế: Trước đây, việc ban hành quyết định cưỡng chế thuộc thẩm quyền của cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền. Nghị định bổ sung quy định cho phép giao quyền cho cấp phó ban hành quyết định cưỡng chế. 

- Bổ sung quy định đối với khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan nhà nước, tổ chức được Nhà nước giao quản lý thu theo quy định của pháp luật chuyên ngành, cơ quan được giao quản lý thu có trách nhiệm xác định số tiền còn nợ, tiền chậm nộp, ban hành thông báo đôn đốc nộp và lập hồ sơ kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định tại khoản 7 Điều 39 Luật Quản lý thuế. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

21. Về cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản (Điều 66)

- Sửa đổi quy định về các loại tài khoản ngân hàng không thực hiện cưỡng chế. Trước đây, chỉ quy định không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài khoản nhận nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi tại tổ chức tín dụng. Nghị định đã bổ sung các loại tài khoản không thực hiện cưỡng chế, gồm: tài khoản nhận kinh phí bảo trì nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở; tài khoản là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; tài khoản quỹ bình ổn giá xăng dầu theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu.  

- Bổ sung quy định về việc rà soát, cập nhật thông tin tài khoản của người nộp thuế sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, sau khi cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp tục rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu. Trường hợp phát hiện người nộp thuế phát sinh tài khoản mới tại tổ chức tín dụng thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định cưỡng chế bổ sung đối với các tài khoản mới phát sinh. 

- Sửa đổi quy định về quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản. Trước đây, khi ban hành quyết định cưỡng chế, cơ quan quản lý thuế lựa chọn áp dụng một trong hai hình thức: trích tiền từ tài khoản hoặc phong tỏa tài khoản. Nghị định sửa đổi theo hướng quyết định cưỡng chế bao gồm đồng thời cả hai nội dung: phong tỏa tài khoản và trích tiền từ tài khoản. Theo đó, ngay sau khi nhận được quyết định cưỡng chế, tổ chức tín dụng có trách nhiệm phong tỏa tài khoản của người nộp thuế, đồng thời thông báo số dư tài khoản cho cơ quan quản lý thuế để ban hành lệnh thu. Trên cơ sở lệnh thu của cơ quan quản lý thuế, tổ chức tín dụng thực hiện trích chuyển số tiền bị cưỡng chế vào tài khoản thu ngân sách nhà nước ngay trong ngày hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo. Toàn bộ quá trình trao đổi thông tin, quyết định cưỡng chế và lệnh thu giữa cơ quan thuế với tổ chức tín dụng được thực hiện bằng phương thức điện tử. 

22. Về cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (Điều 67)

- Bỏ quy định cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho các đối tượng này.

- Sửa đổi quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người lao động có hợp đồng từ 06 tháng xuống 03 tháng, bảo đảm thống nhất với quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động có hợp đồng từ 03 tháng trở lên.

23. Về cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 68) 

- Bỏ quy định về các điều kiện tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với người nộp thuế để cắt giảm thủ tục hành chính.

Nội dung về việc cắt giảm thủ tục hành chính đã được nêu tại Quyết định số 1848/QĐ-TTg ngày 27/08/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính.

- Bổ sung làm rõ trường hợp cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được giao quản lý thu đối với khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước có văn bản đề nghị cơ quan hải quan ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan là áp dụng đối với người nộp thuế có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong thời gian 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm cơ quan thuế đề nghị.

Rút ngắn thời gian xử lý của cơ quan hải quan (từ 05 ngày làm việc xuống 03 ngày làm việc) sau khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp cưỡng chế của cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được giao quản lý thu. 

24. Về cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hoá đơn (Điều 69) 

- Sửa đổi, bổ sung quy định trường hợp cơ quan hải quan hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được giao quản lý thu đề nghị cơ quan thuế ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với người nộp thuế đã hoặc đang áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản hoặc biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn, cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế theo đúng trình tự, thủ tục và gửi thông báo cho cơ quan hải quan hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được giao quản lý thu biết, phối hợp. 

25. Về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của người nộp thuế bị cưỡng chế do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (cưỡng chế bên thứ ba) (Điều 70)

- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba. Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan quản lý thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ. Nghị định sửa đổi theo hướng cho phép áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba khi cơ quan quản lý thuế có đủ căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế. Quy định mới giúp nâng cao tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện cưỡng chế, đồng thời thu hồi tiền thuế nợ kịp thời thông qua các khoản tiền, tài sản do bên thứ ba đang nắm giữ hoặc có nghĩa vụ thanh toán cho người nộp thuế.

-  Sửa đổi quy định về trách nhiệm của bên thứ ba. Trước đây, bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ nộp thay cho người nộp thuế bị cưỡng chế thì bên thứ ba sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Nghị định sửa đổi theo hướng trường hợp bên thứ ba không thực hiện nộp thay cho người nộp thuế hoặc không chuyển giao tài sản thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Luật Quản lý thuế. Quy định mới làm rõ trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyết định cưỡng chế.

- Bổ sung quy định về cưỡng chế đối với trường hợp bên thứ ba đang nắm giữ tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế. Theo đó, trường hợp tài sản không phải là khoản nợ đến hạn phải trả hoặc tiền của người nộp thuế thì việc cưỡng chế được thực hiện theo quy định về kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên. Quy định mới tạo cơ sở pháp lý để xử lý thống nhất đối với tài sản do bên thứ ba đang nắm giữ.

- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế đối với bên thứ ba. Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ. Nghị định sửa đổi theo hướng quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi bên thứ ba đã nộp đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế. Quy định mới bảo đảm phù hợp với trách nhiệm của bên thứ ba, theo đó khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thay trong phạm vi số tiền phải nộp theo quyết định cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế đối với bên thứ ba được chấm dứt hiệu lực.

26. Về cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên (Điều 71)

- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan quản lý thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ. Nghị định sửa đổi theo hướng cho phép áp dụng ngay biện pháp này khi cơ quan quản lý thuế có đủ căn cứ và thông tin hợp pháp về tài sản thuộc sở hữu của người nộp thuế bị cưỡng chế. Quy định mới góp phần nâng cao tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện cưỡng chế và thu hồi kịp thời tiền thuế nợ từ tài sản của người nộp thuế.

- Bổ sung quy định để rõ phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan quản lý thuế và UBND trong việc tổ chức thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Theo đó, cơ quan quản lý thuế thực hiện xác minh tài sản, lập biên bản xác định tài sản thuộc diện kê biên và yêu cầu người nộp thuế cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản; UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc kê biên và bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định sau khi nhận được văn bản đề nghị của cơ quan quản lý thuế. Quy định mới phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý thuế và UBND, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp trong tổ chức thực hiện cưỡng chế.

- Sửa đổi quy định về xử lý số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản kê biên. Trước đây, số tiền thu được được ưu tiên nộp tiền thuế nợ trước, sau đó mới thanh toán chi phí cưỡng chế. Nghị định sửa đổi theo hướng ưu tiên thanh toán chi phí cưỡng chế trước khi nộp tiền thuế nợ. Quy định mới vừa bảo đảm thống nhất với pháp luật về phá sản, vừa khắc phục tình trạng số tiền thu được được sử dụng hết để nộp tiền thuế nợ, dẫn đến không còn nguồn thanh toán các chi phí cưỡng chế đã phát sinh.

- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ. Nghị định sửa đổi theo hướng quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi tài sản kê biên đã được bán đấu giá và số tiền thu được đã được xử lý theo quy định. Quy định mới bảo đảm phù hợp với trình tự xử lý tài sản, đồng thời chấm dứt việc cưỡng chế sau khi đã hoàn tất việc xử lý tài sản và phân bổ số tiền thu được theo quy định.

27. Về cưỡng chế bằng biện pháp nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản (Điều 72)

Đây là biện pháp cưỡng chế mới được quy định tại Luật Quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các điều kiện sau: 

- Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và người nộp thuế không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

- Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu được tiền thuế nợ.

28. Về cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp…(Điều 73)

- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan quản lý thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ. Nghị định sửa đổi quy định rõ các trường hợp áp dụng, gồm: (i) người nộp thuế đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó từ 03 năm trở lên nhưng vẫn không thu được tiền thuế nợ (trừ doanh nghiệp, hợp tác xã đã nộp đơn đề nghị phá sản); (ii) tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam; (iii) trường hợp Tòa án trả lại đơn yêu cầu hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản.

Việc sửa đổi này làm rõ đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.

29. Về điều khoản chuyển tiếp (Điều 75)

Theo Luật Quản lý thuế năm 2025, thẩm quyền xóa và phục hồi số tiền thuế nợ đã được điều chỉnh theo hướng giao cho cơ quan quản lý thuế, không còn thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 

Do đó, tại Điều 75 đã bổ sung quy định chuyển tiếp về phục hồi số tiền thuế nợ đã được xóa, theo đó giao Thủ trưởng cơ quan thuế hoặc cơ quan hải quan trực tiếp quản lý người nộp thuế quyết định phục hồi đối với các khoản nợ thuế đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xóa trước đây nhưng sau đó thuộc trường hợp phải hoàn trả theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2025, bảo đảm thống nhất về thẩm quyền và không phát sinh khoảng trống pháp lý.