TÀI LIỆU GIỚI THIỆU NGHỊ ĐỊNH 169/2026/NĐ-CP NGÀY 15/5/2026 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

Ngày 5 tháng 10 năm 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 169/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan (sau đây gọi tắt là Nghị định). Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Cục Hải quan giới thiệu một số nội dung mới, cơ bản của Nghị định 169/2020/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

1. Cơ sở pháp lý

Thời gian vừa qua, một số văn bản quy định về quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; quy định về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan có sự thay đổi tại các văn bản như: Luật XLVPHC sửa năm 2025, các Nghị định 68/2025/NĐ-CP, 190/2025/NĐ-CP; Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 hiệu lực 01/7/2026.

2. Cơ sở thực tiễn

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH

(bổ sung sau)

III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh của Nghị định

- Về tên gọi: Nghị định có tên gọi: “Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan”.

- Về phạm vi điều chỉnh của Nghị định: quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan liên quan các hành vi vi phạm về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát, vi phạm quy định về quản lý thuế và các pháp luật khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

2. Bố cục của Nghị định

Dự thảo Nghị định gồm 40 Điều, cụ thể như sau:

Chương I. Quy định chung (Điều 1 – Điều 7)

Chương II. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính (Điều 8 – Điều 26)

Chương III. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt và một số thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về hải quan (Điều 27 – Điều 37)

Chương IV. Điều khoản thi hành (Điều 38 – Điều 40)

3. Một số nội dung cơ bản của Nghị định

- Nghị định bãi bỏ 01 Điều (Điều 34)

- Bổ sung 02 Điều mới (Điều 33, 37)

- Sửa đổi 27 Điều về nội dung hành vi, sửa đổi dẫn chiếu các Điều còn lại

- Xóa bỏ một số cụm từ đang được quy định trong toàn bộ Nghị định do không còn được quy định tại các VBQPPL quản lý về mặt nội dung, cụ thể: “chủng loại”; “xét miễn thuế”; “kho bảo thuế”.

3.1. Phần quy định chung (Chương I)

Về cơ bản các nội dung của phần Quy định chung được kế thừa từ quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan. Nghị định có sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau:

- Bổ sung 05 nội dung mới:

(i) Bổ sung quy định về đối tượng áp dụng Nghị định,gồm: Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính(Điều 2).

(ii) Bổ sung quy định về nguyên tắc áp không dụng tình tiết tăng nặng trong XPVPHC nhiều lần “trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhiều lần và bị xử phạt về từng hành vi vi phạm thì không áp dụng tình tiết vi phạm hành chính nhiều lần là tình tiết tăng nặng khi xem xét, quyết định xử phạt”. 

 (iii) Bổ sung quy định về khái niệm tang vật vi phạm hành chính là vật, tiền, hàng hóa có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính; không bao gồm vật, tiền, hàng hóa đã khai hải quan theo đúng quy định của pháp luật.

 (iv) Bổ sung quy định mới khi xem xét xử phạt VPHC đối với vụ việc có hành vi vi phạm tại một số điều tại Nghị định (11, 14, 15, 16, 19) mà tổ chức cá nhân đã bị xử xử phạt VPHC về hành vi quy định tại một trong các Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật Hình sự nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 3).

 (v) Bổ sung những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính: người khai hải quan tự phát hiện và khai bổ sung trước khi thông báo kết quả kiểm tra hồ sơ; khai bổ sung trong 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước khi thời điểm bị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; sửa báo cáo quyết toán trong 60 ngày trước thời điểm thanh tra, kiểm tra; khai sai về số lượng trong thỏa thuận dung sai (Điều 7).

- Sửa đổi, bổ sung 03 nội dung quy định về thời hiệu xử phạt:

(i) Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hiệu xử phạt trong “Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến theo quy định tại Điều 63 Luật XLVPHC thì thời hiệu được kéo dài thêm01 năm (khoản 4 Điều 5). Đồng thời quy định cụ thể thời hiệu xử phạt VPHC trong lĩnh vực hải quan là 2 năm.

 (ii) Sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế là 5 năm không tính “kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính” đảm bảo thống nhất với khoản 7 Điều 44 Luật Quản lý thuế. Theo đó, thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

(iii) Sửa đổi, bổ sung thời điểm chấm dứt HVVP đối với hành vi đã kết thúc bao gồm thời điểm nộp hồ sơ giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, hồ sơ xử lý tiền thuế, tiền phạt nộp thừa” ngoài thời điểm đăng ký tờ khai.

- Sửa đổi, bổ sung 03 biện pháp khắc phục hậu quả:

(i) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hoặc buộc tiêu hủy đối với hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe, vật nuôi, cây trồng, môi trường và văn hóa nội dung độc hại đảm bảo quy định cụ thể biện pháp khắc phục hậu quả bao quát và phù hợp thực tế đối với từng hành vi vi phạm mà hiện nay đang được quy định tại Nghị định 128/2020/NĐ-CP cho đầy đủ. (5 Điều 6)

(ii) Buộc nộp đủ số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng vào ngân sách Nhà nước để đảm bảo tính đầy đủ khi xử phạt với hành vi khai sai làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu; trốn thuế tại Điều 10, 15. (5 Điều 6)

(iii) “Buộc tiêu hủy niêm phong giả mạo” để phù hợp với biện pháp khắc phục hậu quả đang được quy định tại Điều 13 Nghị định này và Nghị định 128 trước đây. (5 Điều 6)

Sửa đổi, bổ sung quy định về nguyên tắc xác định mức tiền phạt khi có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Theo đó trong trường hợp có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt. (đ khoản 3 Điều 6)

- Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc XPVPHC đối với vi phạm hành chính nhiều lần mà bị xử phạt một lần khi thực hiện “trên nhiều tờ khai, chứng từ, tài liệu thuộc hồ sơ hải quan ở các thời điểm đăng ký tờ khai hải quan khác nhau nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý thì xử phạt vi phạm hành chính một lần về hành vi vi phạm, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần đối với hành vi vi phạm hành chính đó. (khoản 1 Điều 3)

Khoản 1 Điều 3 bổ sung cụm từ “tài liệu”; bỏ cụm từ “phát hiện ở cùng một thời điểm” so với trước đây.

Xóa bỏ nguyên tắc áp dụng văn bản (áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại nghị định xử phạt trong lĩnh vực hải quan) đối với các hành vi vi phạm quy định về quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được phát hiện trong địa bàn hoạt động hải quan.

Áp dụng theo nguyên tắc tại khoản 3 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo đó trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

3.2. Phần hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả (Chương II)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định về hành vi vi phạm tại Chương II Nghị định 128/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 102/2021/NĐ-CP; có sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số hành vi vi phạm hành chính. Cụ thể như sau:

3.2.1. Nhóm hành vi vi phạm về thời hạn làm thủ tục hải quan, nộp hồ sơ thuế (Điều 8)

Nhóm này gồm các hành vi vi phạm thời hạn về: làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; tái xuất hàng hóa tạm nhập, quá cảnh; tái xuất, tái nhập phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; nộp hồ sơ thuế; xử lý nguyên vật liệu gia công..., được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

- Bổ sung 05 hành vi tại khoản 2: Căn cứ quy định tại Điều 12, 35, 49, 65, 67, 71, 74, 75 Nghị định 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi tại Nghị định 167/2025/NĐ-CP để bổ sung 05 hành vi

(i) “Báo cáo hàng quý của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên” (e khoản 2).

(ii) “Sửa đổi, bổ sung các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan của tàu bay, tàu biển, tàu liên vận quốc tế, ô tô, mô tô, xe gắn máy xuất cảnh, nhập cảnh Được thực hiện trước khi đưa hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan. (g khoản 2)

(iii) “Thông báo kế hoạch chuyển tải, sang mạn cho cơ quan hải quan quản lý khu vực chuyển tải, sang mạn”. (h khoản 2)

(iv) Thông báo cho cơ quan hải quan về thời hạn, địa điểm, phương thức giao, nhận hàng hóa thực hiện theo chỉ định của thương nhân nước ngoài không đúng thời hạn quy định (điểm i khoản 3)

Thời hạn, địa điểm, phương thức giao, nhận hàng hóa thực hiện theo chỉ định của thương nhân nước ngoài và phải thông báo cho cơ quan hải quan khi làm thủ tục hải quan hoặc trước thời điểm thực hiện việc giao, nhận hàng hóa

(v) Báo cáo tình hình sử dụng, nơi lưu giữ phương tiện chứa hàng hóa theo phương thức quay vòng tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập cho cơ quan hải quan không đúng thời hạn quy định. (k khoản 4)

- Sửa đổi, bổ sung 02 nội dung:

 (i) Sửa đổi, bổ sung nội dung xử phạt với hành vi “Thông báo thay đổi nội dung của thông báo cơ sở gia công, SXXK về mặt bằng, địa chỉ, quy mô sản xuất, người đại diện theo pháp luật của thương nhân, ngành nghề kinh doanh có điều kiện không đúng thời hạn; thông báo cơ sở gia công lại không đúng thời hạn” (điểm đ khoản 2).

 (ii) Sửa đổi, bổ sung quy định đảm bảo rõ ràng, cụ thể khi xử phạt với trường hợp “Thông báo tình hình sử dụng hàng miễn thuế, hàng hóa áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi tại Chương 98 Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi không đúng thời hạn quy định”.

- Bỏ quy định xử phạt về hành vi thời hạn khai báo và làm thủ tục đối với đối tượng là hàng “xét miễn thuế”.

3.2.2. Nhóm hành vi vi phạm quy định về khai hải quan (Điều 9)

Nhóm này gồm các hành vi vi phạm quy định về khai hải quan (khai sai về lượng, tên hàng, xuất xứ...) đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế hoặc hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không thuộc trường hợp vi phạm quy định về khai thuế hoặc trốn thuế; được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung 02 nội dung:

(i) Sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến hành vi “Khai sai so với thực tế về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. (b khoản 3)

 (ii) Sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng: người khai hải quan không bị xử phạt VPHC (hành vi xuất khống) khi “hủy tờ khai hải quan theo quy định” trong trường hợp người khai hải quan “đã làm thủ tục xuất khẩu nhưng không xuất khẩu” (khoản 5).

 Xóa bỏ 04 nội dung:

(i) Không quy định xử phạt về hành vi khai sai về “chủng loại”. Đồng thời bỏ cụm từ “chủng loại” tại các Điều 10, 12, 15

(ii) Bãi bỏ hành vi “khai sai so với thực tế về lượng tên hàng, chủng loại, chất, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp” (điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định 128).

(iii) Bỏ quy định dẫn chiếu nội dung: Quy định tại Điều này không áp dụng đối với các hành vi khai sai không mà không ảnh hưởng đến số tiền thuế phải nộp nếu không có chứng từ để khai bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 11 Nghị định 128.

(iv) Không quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm liên quan đến “kho bảo thuế” do hiện nay quy định thủ tục hải quan không còn sử dụng kho bảo thuế.

3.2.3. Nhóm hành vi vi phạm quy định về khai thuế dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu (Điều 10)

Các hành vi vi phạm và mức tiền phạt của nhóm hành vi vi phạm này được xây dựng trên cơ sở quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 44 và khoản 3 Điều 45 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15; được bố cục theo hướng: khoản 1 quy định hành vi vi phạm, khoản 2, khoản 3 quy định mức phạt tiền (10%, 20%) đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1. Cụ thể được sửa đổi, bổ sung như sau:

Bổ sung 01 quy định: trường hợp không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm ban hành QĐXPVPHC đối với “Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính” thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế tại Điều 15 (b khoản 4).

- Sửa đổi 02 nội dung:

(i) Sửa đổi theo hướng bỏ cụm từ “xuất xứ”, không xử phạt đối với hành vi khai sai xuất xứ ảnh hưởng đến số tiền thuế phải nộp (a khoản 1 Điều 10)

 (ii) Sửa đổi, bổ sung theo hướng bổ sung cụm từ “kiểm tra sau thông quan, thanh tra, kiểm tra đối với hàng hóa đã thông quan”, “kiểm toán” thay cho cụm từ “thanh tra, kiểm tra” đối với hành vi khai sai có ảnh hưởng đến thuế. (điểm b, c khoản 2, điểm b, d khoản 3).

 3.2.4. Nhóm hành vi vi phạm quy định về trốn thuế (Điều 15)

Các hành vi trốn thuế quy định tại nhóm này được xây dựng trên cơ sở Điều khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 như: sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp để khai thuế, sử dụng hàng hóa được miễn thuế không đúng quy định mà không khai thuế... ; được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

- Bổ sung 01 hành vi: hướng dẫn áp dụng cho các trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm đã được Bộ Tài chính, cơ quan hải quan hướng dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế đối với hàng hóa có cùng tên hàng, mã số, thuế suất, mức thuế với hàng hóa vi phạm bằng một trong các hình thức: Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế; Cơ quan hải quan có thẩm quyền đã có thông báo kết quả phân tích, phân loại hoặc có văn bản xác định trước mã số, thuế suất, mức thuế; Cơ quan hải quan có thẩm quyền đã xác định mã số, thuế suất, mức thuế đối với hàng hóa và ban hành quyết định ấn định thuế hoặc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai sai mã số, thuế suất, mức thuế của hàng hóa đó (khoản 5).

- Sửa đổi 01 hành vi: hành vi“Vi phạm quy định tại các điểm b, c, d khoản 3 Điều 10 Nghị định này mà cá nhân, tổ chức vi phạm không nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định trước thời điểm lập biên bản vi phạm hoặc trước thời điểm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển hồ sơ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính (điểm c khoản 1).

- Bãi bỏ dẫn chiếu tại khoản 5 Điều 14 Nghị định 128 dẫn chiếu xử phạt đến hành vi khai sai mà không có chứng từ để khai bổ sung tại khoản 8 Điều 11, do đã bỏ hành vi vi phạm này.

3.2.5. Nhóm hành vi vi phạm quy định về khai hải quan của người xuất cảnh, nhập cảnh đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý (Điều 11)

Chỉ sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2, 4, 5: bỏ cụm từ “hoặc chứng minh thư biên giới” và sửa cụm từ “giấy thông hành biên giới” thành “giấy thông hành” theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

3.2.6. Nhóm hành vi vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra (Điều 12)

Gồm các hành vi xảy ra hoặc được phát hiện khi thực hiện kiểm tra hải quan, thanh tra như: tẩy xóa, sửa chữa chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; không bố trí người, phương tiện để kiểm tra thực tế hàng hóa khi cơ quan hải quan yêu cầu, không xuất trình hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra theo quy định… ; được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

Bổ sung 01 hành vi “Không thông báo định mức thực tế của sản phẩm đã xuất khẩu theo năm tài chính trước thời điểm quyết định kiểm tra, kiểm tra sau thông quan, thanh tra” (điểm c khoản 3).

- Sửa đổi, bổ sung 03 nội dung:

(i) Sửa đổi, bổ sung quy định chuyển phần dẫn chiếu loại trừ, bổ sung cụm từ “trừ hành vi khai, nộp, xuất trình, cung cấp thông tin hồ sơ hải quan quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8” tại Điều 12và bỏ dẫn chiếu tại điểm a khoản 1 Điều 8. Để phân tách, tránh áp dụng chồng chéo, khi xử phạt đối với hành vi “Cung cấp không đầy đủ, không đúng thời hạn hồ sơ, chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh cho cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật” (điểm b khoản 3).

(ii) Sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ cụm từ “thanh tra” chỉ xử phạt hành vi “không chấp hành quyết định kiểm tra của cơ quan hải quan” thay vì không chấp hành quyết định “thanh tra của cơ quan hải quan” (khoản 4).

(iii) Sửa đổi, bổ sung đối với hình thức phạt bổ sung, theo đó chỉ “Tịch thu tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa chưa kiểm tra hải quan” đối với hành vi “Đánh tráo hàng hóa đã kiểm tra hải quan với hàng hóa chưa kiểm tra hải quan” (điểm a khoản 8).

Xóa bỏ 01 hành vi “xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thực tế không đúng với khai hải quan về lượng, tên hàng, chủng loại mà không có chứng từ để khai bổ sung (khoản 8 Điều 11 Nghị định 128)

3.2.7. Nhóm hành vi vi phạm quy định về giám sát hải quan (Điều 13)

Gồm các hành vi vi phạm về giám sát hải quan như: không bảo đảm nguyên trạng niêm phong hải quan, niêm phong của hãng vận chuyển, tự ý tiêu thụ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan; đưa nguyên liệu, vật tư, máy móc đi gia công ở cơ sở khác mà không thông báo…; được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

- Bổ sung 08 hành vi:

(i) Đóng ghép hàng hóa quá cảnh với hàng hóa xuất khẩu mà không đáp ứng điều kiện theo quy định (e khoản 2).

(ii) Lưu giữ phương tiện chứa hàng hóa theo phương thức quay vòng không đúng địa điểm do người khai hải quan đã thông báo cho cơ quan hải quan khi làm thủ tục tạm nhập (g khoản 2).

 (iii) Chuyển tải, sang mạn hàng hóa, vật dụng trên phương tiện vận tải khi chưa có sự đồng ý của cơ quan hải quan (h khoản 2).

 (vi) Sử dụng phương tiện vận chuyển hàng hóa quá cảnh không đáp ứng điều kiện giám sát hải quan theo quy định (i khoản 2).

(v) Vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu biên giới đường bộ bằng phương thức vận tải khác theo thỏa thuận của Việt Nam với các nước có chung biên giới (phương tiện vận tải hàng hóa vận hành tự động, không có người điều khiển qua lại cửa khẩu biên giới đất liền trong phạm vi xác định, băng tải, ống dẫn, đường truyền hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước có chung đường biên giới) mà không thực hiện cung cấp trước thông tin hàng hóa, thời gian vận chuyển cho cơ quan hải quan để thực hiện giám sát theo quy định (k khoản 2).

(vi) Người điều khiển phương tiện không đưa phương tiện chở hàng hóa nhập khẩu vào địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc khu vực tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa theo quy định tại khu vực cửa khẩu để chờ làm thủ tục hải quan (l khoản 2).

(vii) Cá nhân, cơ quan, tổ chức ở khu vực biên giới thường xuyên qua lại cửa khẩu biên giới do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày không đăng ký phương tiện với cơ quan hải quan để kiểm tra, giám sát theo quy định (m khoản 2).

(viii) Không có văn bản thông báo cơ quan hải quan cho phép đưa hàng hóa vào gửi kho ngoại quan tại cửa khẩu xuất hoặc đưa trở lại kho ngoại quan ban đầu hoặc địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở khu vực cửa khẩu, biên giới đối với trường hợp hàng hóa xuất kho ngoại quan quá thời hạn lưu giữ trong khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất mà không xuất khẩu được (n khoản 2). Đồng thời bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả “buộc đưa ra khỏi VN/buộc tái xuất tại cửa khẩu nhập” (d khoản 8).

- Sưa đổi, bổ sung 05 nội dung:

(i) Sửa đổi, bổ sung quy định “Thực hiện việc trung chuyển, chuyển tải, lưu kho, đóng chung với hàng hóa xuất khẩu có thay đổi phương thức vận chuyển, thay đổi phương tiện vận tải trong quá trình vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan mà không gửi văn bản đề nghị đã được phê duyệt cho cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật” (a khoản 1).

Bỏ các cụm từ “chia tách lô hàng”, “container, đóng chung toa xe chở hàng”, “không thông báo hoặc không được sự đồng ý của”.

(ii) Quy định loại trừ chỉ xử phạt hành vi “Thực hiện tiêu hủy phế liệu, phế phẩm từ hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, hoạt động của doanh nghiệp chế xuất mà không thông báo với cơ quan hải quan” khi “không thuộc trường hợp quy định tại Điều 10 và Điều 15 Nghị định này” để đảm bảo tính chặt chẽ (b khoản 1).

(iii) Quy định loại trừ đối với hành vi “Lưu giữ hàng hóa không đúng địa điểm quy định hoặc địa điểm đã đăng ký với cơ quan hải quan, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này” (d khoản 2).

 (iv) Sửa đổi bổ sung thêm cụm từ “linh kiện nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu, bán thành phẩm” và sửa đổi định danh hành vi “Không thông báo địa điểm lưu giữ khi đưa nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, linh kiện nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu, bán thành phẩm đến cơ sở khác gia công lại hoặc đến cơ sở, nơi lưu giữ khác với địa điểm ban đầu đã thông báo với cơ quan hải quan để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu” (c khoản 1).

(v) Sửa đổi, bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc tiêu hủy niêm phong giả mạo” thay vì “tịch thu niêm phong giả mạo” đối với hành vi “sử dụng niêm phong hải quan giả mạo hoặc niêm phong của hãng vận chuyển giả mạo” (đ khoản 8).

3.2.8. Nhóm hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hải quan (Điều 14)

Gồm các hành vi vi phạm được phát hiện trong quá trình cơ quan hải quan thực hiện hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải quan như: vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; chứa chấp, mua bán hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan, không cung cấp sơ đồ hầm hàng để thực hiện quyết định khám hành chính… , được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

Sửa đổi, bổ sung quy định về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm” đối với hành vi vi phạm “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.

3.2.9. Nhóm hành vi vi phạm quy định về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Nhóm các hành vi vi phạm về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm 8 điều, được quy định từ Điều 16 đến Điều 23. Về cơ bản kế thừa quy định tại Nghị định 128 nhưng có sửa đổi, bổ sung một số hành vi; gồm:

- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu (Điều 16).

- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập – tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa có hình ảnh, nội dung thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia hoặc hàng hóa có nội dung khác gây ảnh hưởng đến anninh, chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ ngoại giao của Việt Nam (Điều 17).

- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập – tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa giả mạo xuất xứ Việt Nam (Điều 18).

- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo hạn ngạch, giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật (Điều 19).

- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 20).

- Vi phạm quy định về tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hóa (Điều 21).

- Vi phạm quy định về quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa (Điều 22).

- Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu (Điều 23).

Theo đó:

- Bổ sung 02 hành vi:

(i) Hành vi “Nhập khẩu hàng hóa mà không có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo quy định phải có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa để xác định hàng hóa không có xuất xứ từ các nước có nguy cơ gây hại đến an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc vệ sinh môi trường cần được kiểm soát”. (2 Điều 19). Bổ sung phù hợp với điểm c khoản 1 10 Thông tư 33/2023/TT-BTC chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và Khoản 2 Điều 26 Nghị định 31/2023/NĐ-CP.

(ii) Hành vi “Giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật nêu tại Điều này là giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quy định tại Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định về giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều kiện về chủ thể kinh doanh mà thương nhân phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu” (7 Điều 19).Để làm rõ các văn bản quy định Giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn nêu tại Điều này.

Sửa đổi theo hướng tách hành vi:

(i)Tách nội dung quy định XP đối với hàng cấm và XP đối với hàng tạm ngừng thành 02 khoản để áp dụng mức phạt khác nhau, cụ thể: đối với nhóm hành vi xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển vào Việt Nam hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu áp dụng mức tiền phạt cao hơn; nhóm hành vi xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển vào Việt Nam hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu mức phạt thấp hơn để đảm bảo tương đồng với quy định tại Điều 36, 37 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 16).

(ii)Tách hành vi vi phạm “Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo quy định phải có hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu nhưng không có hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu” thành một khoản riêng và quy định mức phạt cao hơn tương ứng mức phạt với cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 38 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP (4 Điều 19).

Sửa đổi điều chỉnh mức phạt:

(i) Giảm mức tiền phạt với hành vi “Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa thuộc danh mục kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện mà không đủ điều kiện để kinh doanh tạm nhập, tái xuất” (c khoản 2 Điều 21);

(ii) Tăng mức tiền phạt với hành vi “kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa phải có giấy phép mà không có giấy phép” (3 Điều 21)

(iii) Tăng mức tiền phạt với hành vi “chuyển khẩu hàng hóa phải có giấy phép mà không có giấy phép” (1 Điều 22).

- Sửa đổi thiết kế lại theo hướng bổ sung cụm từ “kỹ thuật” vào sau cụm từ “tiêu chuẩn, quy chuẩn” và kết cấu lại khoản 1 quy định định danh HVVP về điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật, khoản 3 quy định về mức tiền phạt cụ thể (Điều 19).

- Sửa đổi bỏ cụm từ “hàng giả, hàng hóa giả mạo xuất xứ Việt Nam” thay bằng cụm từ “trừ trường hợp vi phạm quy định tại Điều 18 Nghị định này” để tránh trùng lặp tại hành vi “Nhập khẩu hàng hóa có nhãn hàng hóa ghi sai các nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa đối với hàng hóa nhập khẩu (trừ trường hợp vi phạm quy định tại Điều 18 Nghị định này) (2 Điều 23).

Sửa đổi BPKPHQ: không buộc tái xuất với hàng quá cảnh đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép trong thời hạn thi hành QĐXP (a khoản 5 Điều 22).

3.2.10Nhóm hành vi vi phạm quy định liên quan đến cưỡng chế thi hành quyết định hành chính (Điều 26)

Điều này được xây dựng trên cơ sở quy định tại Luật Quản lý thuế số 108 (Điều 46), Luật Xử lý vi phạm hành chính (Điều 88), khoản 4 Điều 18 Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định cưỡng chế thi hành QĐXP VPHC; quy định xử phạt đối với trường hợp ngân hàng thương mại không thực hiện trách nhiệm trích chuyển tiền từ tài khoản hoặc khấu trừ một phần tiền lương của cá nhân, tổ chức vi phạm theo quyết định cưỡng chế; xử phạt đối với trường hợp thông đồng bao che cho người nộp thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế…

4. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 28)

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 về quy định lập biên bản vi phạm với vi phạm xảy ra trên tày bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu hỏa và thời hạn cụ thể lập BBVPHC trong thời hạn 03 ngày làm việc đối với trường hợp này để phù hợp với quy định tại điểm b khoản 9 Điều 12 Nghị định số 118 sửa đổi tại Nghị định 68&190.

5. Nguyên tắc phân định thẩm quyền xử phạt (Điều 34)

- Bổ sung 01 quy định mới “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hải quan xảy ra thuộc địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan được giao quản lý địa bàn có trách nhiệm xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Nghị định này; trường hợp do Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Hải quan phát hiện thì thực hiện xử phạt theo thẩm quyền.

Đối với những vụ việc vi phạm hành chính do Chi cục Điều tra chống buôn lậu và Chi cục Hải quan khu vực cùng phối hợp bắt giữ, điều tra, xác minh mà không xác định được cơ quan, đơn vị nào thụ lý đầu tiên thì Chi cục Điều tra chống buôn lậu hoặc Chi cục Hải quan khu vực thực hiện xử phạt theo thẩm quyền”.

- Sửa đổi dẫn chiếu nguyên tắc phân định thẩm quyền tại Điều này theo hướng phân định thẩm quyền xử phạt theo nhóm chức danh, hệ lực lượng để đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 118/2021/NĐ-CP thay vì quy định dẫn chiếu chi tiết điều, khoản, điểm đối với các chức danh có thẩm quyền xử phạt.

6. Thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt (Điều 35)

- Nghị định quy định thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt thực hiện theo quy định tại Chương III Phần thứ hai Luật Xử lý VPHC và quy định tại Nghị định.

- Bổ sung 02 nội dung:

(i) Khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại điểm a, b và đ khoản 5 Điều 6 Nghị định này thì Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả phải ghi rõ việc áp dụng biện pháp tịch thu, buộc tiêu hủy quy định tại khoản 2 Điều này. (khoản 3).

 (ii) Trường hợp chưa hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà tổ chức, cá nhân vi phạm có văn bản đề nghị cơ quan hải quan áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại; tịch thu đối với các loại tang vật khác do không thực hiện được biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, b và đ khoản 5 Điều 6 Nghị định này thì người có thẩm quyền quy định tại Điều 29; các khoản 2, 3, 4 Điều 30; các khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều 31; các khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 32; các khoản 2, 3, 4 Điều 33 Nghị định này xem xét quyết định. (khoản 4).

- Sửa đổi theo hướng quy định cụ thể việc sử dụng các mẫu biên bản tiêu hủy và mẫu biên bản tịch thu tang vật, phương tiện VPHC (MBB20, MBB21 tại NĐ 118) khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả/sử phạt bổ sung trong trường hợp quá thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả mà biện pháp khắc phục hậu buộc tái xuất/buộc đưa ra khỏi Việt Nam không được áp dụng. Đồng thời dẫn chiếu đến các hành vi vi phạm cụ thể được áp dụng quy định chuyển đổi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định này (khoản 2).

7. Bổ sung 02 Điều mới

7.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân (Điều 33)

Bổ sung quy thẩm quyền xử phạt cho lực lượng công an nhân dân tại Điều 33 để thực hiện xử phạt khi kết thúc quá trình điều tra mà có vụ việc không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì thực hiện xử phạt VPHC mà không cần chuyển hồ sơ cho cơ quan hải quan theo quy định tại Điều 62 Luật XLVPHC sửa đổi năm 2025.

7.2. Xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử (Điều 37)

Để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) và phù hợp quy định tại Điều 18a Luật XLVPHC số 88 sửa đổi năm 2025, Điều 28a, 28b Nghị định 118 sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 68&190.

8. Bãi bỏ 01 Điều: “Miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan”(Điều 34 Nghị định 128) do Điều này chỉ dẫn chiếu đến Điều 77 Luật XLVPHC.